Lamentations (Vietnamese)
1
1:1b.LAM.001.001 Thành nầy xưa vốn đông dân lắm, kìa nay ngồi một mình! Xưa vốn làm lớn giữa các dân, nay như đờn bà góa! Xưa vốn làm nữ chủ các quận, nay phải nộp thuế khóa!
1:2b.LAM.001.002 Nó khóc nức nở ban đêm, nước mắt tràn đôi má. Mọi kẻ yêu mến nó, chẳng ai yên ủi nó. Bạn bè nó phản nó, đều trở nên nghịch thù.
1:3b.LAM.001.003 Giu-đa đi làm phu tù, vì chịu nạn cùng chịu sai dịch nặng nề. Ở đậu giữa các dân, chẳng được chút nghỉ ngơi. Những kẻ bắt bớ đuổi theo nó, theo kịp nó nơi eo hẹp.
1:4b.LAM.001.004 Các đường lối Si-ôn đương thảm sầu, vì chẳng ai đến dự kỳ lễ trọng thể nữa. Mọi cửa thành hoang vu; các thầy tế lễ thở than; Các gái đồng trinh nó bị khốn nạn, chính nó phải chịu cay đắng.
1:5b.LAM.001.005 Kẻ đối địch nó trở nên đầu, kẻ thù nghịch nó được thạnh vượng; Vì Ðức Giê-hô-va làm khốn khổ nó, bởi cớ tội lỗi nó nhiều lắm. Con nhỏ nó bị kẻ nghịch bắt điệu đi làm phu tù.
1:6b.LAM.001.006 Con gái Si-ôn đã mất hết mọi sự làm cho mình vinh hoa. Các quan trưởng nó như nai chẳng tìm được đồng cỏ, Chạy trốn kiệt cả sức trước mặt kẻ đuổi theo.
1:7b.LAM.001.007 Giê-ru-sa-lem, đương ngày khốn khổ lưu ly, nhớ xưa trải mọi mùi vui thích; Khi dân nó sa vào tay kẻ nghịch, chẳng ai đến cứu cùng. Quân thù xem thấy nó, chê cười nó hoang vu!
1:8b.LAM.001.008 Giê-ru-sa-lem phạm tội trọng, bởi đó trở nên sự ô uế. Mọi kẻ tôn kính đều khinh dể, vì thấy nó trần truồng. Nó tự mình thở than, trở lui.
1:9b.LAM.001.009 Váy nó dơ bẩn; nó chẳng nghĩ sự cuối cùng mình! Sự sa sút nó khác thường, chẳng ai yên ủi nó! Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin xem sự kiên nhẫn tôi, vì kẻ thù đã tự tôn mình làm lớn.
1:10b.LAM.001.010 Kẻ thù đã giơ tay trên mọi vật tốt nó; Vì nó đã thấy các dân ngoại xông vào nơi thánh nó. Về dân ngoại ấy Ngài có truyền: chẳng được vào hội Ngài.
1:11b.LAM.001.011 Cả dân nó vừa đi xin bánh, vừa thở than; Ðổi hết sự vui lấy thức ăn, để tươi tỉnh linh hồn mình. Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi đã nên khinh hèn!
1:12b.LAM.001.012 Hỡi mọi người đi qua, há chẳng lấy làm quan hệ sao? Xét xem có sự buồn bực nào đọ được sự buồn bực đã làm cho ta, Mà Ðức Giê-hô-va đã làm khốn cho ta nơi ngày Ngài nổi giận phừng phừng.
1:13b.LAM.001.013 Ngài đã giáng lửa từ trên cao, và xương cốt ta và thắng được. Ngài đã giăng lưới dưới chơn ta, làm cho ta thối lui. Ngài đã làm cho ta nên đơn chiếc, hằng ngày bị hao mòn.
1:14b.LAM.001.014 Ách của tội lỗi ta Ngài buộc tay vào, Cả bó chất nặng cổ ta, Ngài đã bẻ gãy sức mạnh ta. Chúa đã phó ta trong tay chúng nó, mà ta không chống cự được!
1:15b.LAM.001.015 Chúa đã làm nên hư không lính chiến ở giữa ta. Ngài đã nhóm hội lớn nghịch cùng ta, đặng nghiền kẻ trai trẻ ta. Chúa đã giày đạp như trong bàn ép con gái đồng trinh của Giu-đa.
1:16b.LAM.001.016 Vậy nên ta khóc lóc; mắt ta tuôn nước mắt; Vì kẻ yên ủi làm tỉnh hồn ta thì đã xa ta. Con cái ta bị đơn chiếc, vì kẻ thù đã thắng trận.
1:17b.LAM.001.017 Si-ôn giơ tay, chẳng ai yên ủi nó; Ðức Giê-hô-va đã truyền về Gia-cốp: những kẻ chung quanh nó nghịch cùng nó. Giê-ru-sa-lem ở giữa chúng nó như một sự ô uế.
1:18b.LAM.001.018 Ðức Giê-hô-va là công bình, vì ta đã bạn nghịch cùng mạng Ngài. Hỡi các dân, xin hãy nghe hết thảy, hãy xem sự buồn bực ta! Gái đồng trinh và trai trẻ ta đã đi làm phu tù.
1:19b.LAM.001.019 Ta đã kêu gọi những kẻ yêu mến ta, nhưng họ lừa dối ta. Các thầy tế lễ và trưởng lão đã tắt hơi trong thành, Khi họ tim đồ ăn để tươi tỉnh linh hồn mình.
1:20b.LAM.001.020 Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi gặp hoạn nạn; lòng tôi bối rối; Trái tim tôi chuyển động, vì tôi bạn nghịch lắm lắm! Ở ngoài có gươm dao làm cho mất, trong nhà có sự tử vong.
1:21b.LAM.001.021 Người ta nghe tiếng tôi than thở, chẳng ai hề yên ủi. Mọi kẻ thù nghe tin tôi bị nạn, biết Ngài đã làm thì mừng rỡ. Ngày Ngài đã rao, Ngài sẽ khiến đến! chúng nó sẽ giống như tôi!
1:22b.LAM.001.022 Nguyền cho mọi tội chúng nó bày ra trước mặt Ngài! Xin đãi chúng nó như đãi tôi bởi cứ mọi tội lỗi tôi; Vì tôi than thở nhiều, và lòng tôi mòn mỏi.
2
2:1b.LAM.002.001 Sao Chúa đã nổi giận, vầy mây che khuất con gái Si-ôn? Ngài đã ném sự đẹp đẽ Y-sơ-ra-ên từ trên trời xuống đất. Trong ngày thạnh nộ, Ngài chẳng nhớ đến bệ chơn mình.
2:2b.LAM.002.002 Chúa đã nuốt đi, chẳng thương xót, hết thảy chỗ ở của Gia-cốp. Ngài nhơn giận đã đổ đồn lũy con gái Giu-đa; Ngài đã xô cho đổ xuống đất, làm nhục nước và quan trưởng trong nước.
2:3b.LAM.002.003 Trong cơn nóng giận, Ngài chặt hết sừng của Y-sơ-ra-ên. Ngài đã rút tay hữu lại từ trước mặt kẻ nghịch thù. Ngài đã đốt cháy Gia-cốp như lửa hừng thiêu nuốt cả tư bề.
2:4b.LAM.002.004 Ngài giương cung ra như kẻ thù; giơ tay hữu lên, đứng như kẻ nghịch. Ngài đã giết hết, những kẻ làm vui mắt. Trong trại con gái Si-ôn, Ngài đã đổ giận ra như lửa.
2:5b.LAM.002.005 Chúa đã trở nên như kẻ nghịch đã nuốt Y-sơ-ra-ên; Nuốt cả cung đền, phá tan đồn lũy; Làm cho con gái Giu-đa thêm tang chế thảm thương.
2:6b.LAM.002.006 Ngài đã cất nhà tạm mình đi cách mạnh bạo như thuộc về vườn; lại đã hủy nơi hội họp Ngài. Tại Si-ôn, Ðức Giê-hô-va đã khiến ngày hội trọng thể cùng Sa-bát bị quên đi; Trong cơn nóng giận, Ngài khinh dể vua và thầy tế lễ.
2:7b.LAM.002.007 Ðức Giê-hô-va đã bỏ bàn thờ, lại gớm nơi thánh; Ngài đã phó thành quách cung điện Si-ôn vào trong tay quân nghịch. Chúng nó làm om sòm trong nhà Ðức Giê-hô-va như trong ngày hội trọng thể.
2:8b.LAM.002.008 Ðức Giê-hô-va đã định phá hủy tường thành của con gái Si-ôn; Ngài đã giăng dây mực, chẳng ngừng tay về sự phá diệt; Ngài làm cho lũy và tường thảm sầu hao mòn cùng nhau.
2:9b.LAM.002.009 Các cửa nó sụp trong đất; Ngài đã phá và bẻ các then chốt. Vua và quan trưởng nó ở giữa các nước là nơi chẳng có pháp luật! Chính mình các tiên tri chẳng tìm được từ Ðức Giê-hô-va sự hiện thấy chi.
2:10b.LAM.002.010 Các kẻ già cả gái Si-ôn nín lặng ngồi dưới đất; Ðầu đổ tro bụi, mình mặc bao gai. Các gái đồng trinh Giê-ru-sa-lem gục đầu đến đất.
2:11b.LAM.002.011 Mắt ta hao mòn vì chảy nước mắt, lòng ta bối rối; Gan ta đổ trên đất, vì sự hủy diệt con gái dân ta. Vì con trẻ và các con đương bú, ngất đi nơi các đường phố trong thành.
2:12b.LAM.002.012 Chúng nó nói cùng mẹ mình rằng: tìm thóc và rượu ở đâu? Khi nhất đi như kẻ bị thương, nơi các đường phố trong thành; Và khi chúng nó tắt hơi trên lòng mẹ mình.
2:13b.LAM.002.013 Ta làm chứng gì cho ngươi? Hỡi gái Giê-ru-sa-lem, ta kể thí dụ chi? Ta lấy gì sánh cùng ngươi đặng yên ủi ngươi, hỡi con gái đồng trinh Si-ôn? Sự phá hại ngươi to như biển: ai sửa sang lại được?
2:14b.LAM.002.014 Các tiên tri ngươi xem cho ngươi những sự hiện thấy giả dối và ngu dại. Chẳng tỏ ra tội lỗi ngươi, đặng đem phu tù ngươi trở về. Chỉ thấy cho ngươi những lời tiên tri dối và sự làm cớ cho ngươi bị đuổi.
2:15b.LAM.002.015 Những người qua đường thấy ngươi thì vỗ tay; Xỉ báng lắc đầu vì thấy gái Giê-ru-sa-lem, Nói rằng: Có phải nầy là thành mà người ta gọi là sự đẹp đẽ trọn vẹn, sự vui mừng của cả đất chăng?
2:16b.LAM.002.016 Mọi kẻ thù nghịch ngươi hả miệng rộng nghịch cùng ngươi, Xỉ báng, nghiến răng, rằng: Chúng ta đã nuốt nó! Nầy chắc là ngày chúng ta trông đợi, chúng ta đã tìm được, đã thấy rồi!
2:17b.LAM.002.017 Ðức Giê-hô-va đã làm sự mình định; đã làm trọn lời mà xưa kia mình đã truyền; Ngài đã lật đổ chẳng thương xót, Ðã làm cho kẻ thù ngươi vui vì cớ ngươi, khiến sừng kẻ địch ngươi cất lên.
2:18b.LAM.002.018 Lòng dân ngươi kêu van đến Chúa. Hỡi tường thành con gái Si-ôn, hãy cho nước mắt ngươi ngày đêm chảy như sông! Ðừng cho nghỉ ngơi; con ngươi mắt người chẳng thôi.
2:19b.LAM.002.019 Hãy chổi dậy kêu van lúc ban đêm, vừa đầu các phiên canh; Ðổ lòng ra như nước ở trước mặt Chúa. Hãy giơ tay hướng về Chúa vì sự sống con nhỏ ngươi, chúng nó ngất đi vì đói nơi góc phố.
2:20b.LAM.002.020 Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin đoái xem! Ngài đã hề đãi ai như thế? Ðờn bà há ăn trái ruột mình, tức con cái ẵm trong tay ư? Thầy tế lễ cùng tiên tri, há nên giết trong nơi thánh Chúa ư?
2:21b.LAM.002.021 Những người trẻ và già nằm sải trên đất trong đường phố. Những gái trẻ và trai trẻ ta đều ngã dưới mũi gươm. Ngài giết đi nơi ngày thạnh nộ, tru diệt chẳng xót thương.
2:22b.LAM.002.022 Ngài đã nhóm như ngày hội trọng thể những sự kinh hãi của tôi mọi bề. Nơi ngày thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va, chẳng ai thoát khỏi và sót lại. Những kẻ tôi đã bồng ẵm và thấy lớn lên, hết thảy đã bị quân nghịch hủy hại.
3
3:1b.LAM.003.001 Ta là người đã thấy khốn khổ bởi gậy thạnh nộ của Ngài.
3:2b.LAM.003.002 Ngài đã dắt ta và khiến ta bước đi trong tối tăm, chẳng bước đi trong sáng láng.
3:3b.LAM.003.003 Chắc Ngài trở tay cả ngày nghịch cùng ta nhiều lần.
3:4b.LAM.003.004 Ngài đã làm hao mòn thịt và da, đã bẻ gãy xương ta,
3:5b.LAM.003.005 Ðã xây đắp nghịch cùng ta, vây ta bằng mật đắng và sự nhọc nhằn,
3:6b.LAM.003.006 Khiến ta ở trong nơi tối tăm, như người đã chết từ lâu đời.
3:7b.LAM.003.007 Ngài đã bao bọc ta bằng tường, mà không cho ra; lại làm cho nặng xiềng ta.
3:8b.LAM.003.008 Khi ta kỳ lạ và xin cứu, Ngài bịt tai chẳng nghe lời cầu nguyện;
3:9b.LAM.003.009 Lấy những đá đẽo lấp lối ta; Ngài đã làm cho đường nẻo ta quanh quẹo.
3:10b.LAM.003.010 Ngài đối với ta như gấu rình rập, như sư tử nơi kín đáo;
3:11b.LAM.003.011 Khiến ta lạc đường và vồ xé ta, cho ta phải sầu não.
3:12b.LAM.003.012 Ngài đã giương cung và chọn ta làm tròng cho tên Ngài.
3:13b.LAM.003.013 Ngài đã khiến tên trong bao Ngài vào trái cật ta:
3:14b.LAM.003.014 Ta làm trò cười cho cả dân ta, họ lấy ta làm bài hát cả ngày.
3:15b.LAM.003.015 Ngài đã cho ta đầy dẫy sự đắng cay, cho ta no nê bằng ngải cứu.
3:16b.LAM.003.016 Ngài đã lấy sỏi bẻ răng ta; vùi ta vào trong tro.
3:17b.LAM.003.017 Ngài khiến hồn ta xa sự bình an, ta đã quên phước lành.
3:18b.LAM.003.018 Ta rằng: Hết sức mạnh ta, dứt lòng trông đợi Ðức Giê-hô-va.
3:19b.LAM.003.019 Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng.
3:20b.LAM.003.020 Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta.
3:21b.LAM.003.021 Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong:
3:22b.LAM.003.022 Ấy là nhờ sự nhơn từ Ðức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.
3:23b.LAM.003.023 Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.
3:24b.LAM.003.024 Hồn ta nói: Ðức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.
3:25b.LAM.003.025 Ðức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài.
3:26b.LAM.003.026 Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Ðức Giê-hô-va.
3:27b.LAM.003.027 Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.
3:28b.LAM.003.028 Phải, nó phải ngồi một mình và làm thinh, vì Ngài đã gán ách trên mình.
3:29b.LAM.003.029 Nó khá để miệng trong bụi đất! hoặc giả sẽ có sự trông mong.
3:30b.LAM.003.030 Nó khá đưa má ra cho kẻ vả, khá chịu đầy nhuốc nha.
3:31b.LAM.003.031 Vì Chúa chẳng hề bỏ cho đến đời đời.
3:32b.LAM.003.032 Dầu Ngài đã làm cho lo buồn, còn sẽ thương xót theo sự dư dật của lòng nhơn từ Ngài;
3:33b.LAM.003.033 Vì ấy là chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu.
3:34b.LAM.003.034 Khi người ta giày đạp mọi kẻ tù trong đất,
3:35b.LAM.003.035 Khi uốn cong lý đoán của người trước mặt Ðấng Rất Cao,
3:36b.LAM.003.036 Khi điên đảo ai trong sự xét đoán, thì Chúa chẳng ưng chịu.
3:37b.LAM.003.037 Nếu chẳng phải Chúa truyền lịnh, ai hay nói ra và sự ấy được thành?
3:38b.LAM.003.038 Há chẳng phải từ miệng Ðấng Rất Cao ra tai họa và phước lành?
3:39b.LAM.003.039 Cớ sao người đang sống phàn nàn vì chịu hình phạt về tội lỗi mình?
3:40b.LAM.003.040 Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Ðức Giê-hô-va.
3:41b.LAM.003.041 Chúng ta hãy giơ lòng và tay lên đến Ðức Chúa Trời trên trời.
3:42b.LAM.003.042 Chúng tôi đã phạm phép, đã bạn nghịch; Ngài đã chẳng dung thứ!
3:43b.LAM.003.043 Ngài lấy giận che mình và đuổi theo chúng tôi, giết lát chúng tôi, chẳng thương xót.
3:44b.LAM.003.044 Ngài ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được.
3:45b.LAM.003.045 Ngài làm chúng tôi ra của bỏ, ra đồ rác rến trong dân sự.
3:46b.LAM.003.046 Mọi kẻ nghịch thù hả miệng rộng nghịch cùng chúng tôi.
3:47b.LAM.003.047 Chúng tôi đã mắc sự sợ hãi, hầm hố, hủy diệt, và hư hại.
3:48b.LAM.003.048 Mắt tôi chảy dòng nước, vì gái dân tôi mắc diệt vong.
3:49b.LAM.003.049 Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt,
3:50b.LAM.003.050 Cho đến chừng nào Ðức Giê-hô-va đoái xem, từ trên trời ngó xuống.
3:51b.LAM.003.051 Mắt tôi làm khổ linh hồn tôi, vì mọi con gái của thành tôi.
3:52b.LAM.003.052 Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim.
3:53b.LAM.003.053 Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi.
3:54b.LAM.003.054 Nước lên ngập đầu tôi, tôi nói: Ta phải chết mất!
3:55b.LAM.003.055 Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi từ nơi ngục tối rất sâu kêu cầu danh Ngài.
3:56b.LAM.003.056 Ngài chúng con đã nghe tiếng tôi, xin đừng bịt tai khỏi hơi thở và lời kêu van tôi.
3:57b.LAM.003.057 Ngày tôi cầu Ngài, Ngài đã đến gần tôi, đã phán cùng tôi: Chớ sợ hãi chi!
3:58b.LAM.003.058 Hỡi Chúa, Ngài đã đối nại việc hồn tôi, là Ðấng chuộc mạng tôi.
3:59b.LAM.003.059 Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã thấy người ta hiếp đáp tôi: xin đoán xét việc tôi!
3:60b.LAM.003.060 Chúng nó báo thù, lập mưu hại tôi, thì Ngài đã thấy hết.
3:61b.LAM.003.061 Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã nghe chúng nó sỉ nhục, bày mọi mưu chước nghịch cùng tôi.
3:62b.LAM.003.062 Những môi miếng của kẻ dấy nghịch cùng tôi và mưu kế lập ra hại tôi cả ngày.
3:63b.LAM.003.063 Xin Ngài xem sự ngồi xuống và đứng dậy của chúng nó; tôi là bài hát của chúng nó.
3:64b.LAM.003.064 Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo trả chúng nó tùy theo việc tay chúng nó làm.
3:65b.LAM.003.065 Ngài sẽ ban lòng cứng cỏi cho chúng nó, sự rủa sả giáng trên chúng nó.
3:66b.LAM.003.066 Ngài sẽ lấy cơn giận và đuổi theo, hủy hoại chúng nó khỏi dưới trời của Ðức Giê-hô-va.
4
4:1b.LAM.004.001 Than ôi! vàng mờ tối, vàng ròng biến đổi dường nào! Ðá nơi thánh đổ ra nơi mọi góc đường phố!
4:2b.LAM.004.002 Các con trai của Si-ôn quí báu khác nào vàng ròng, Nay coi như bình đất sét là việc của tay thợ gốm làm!
4:3b.LAM.004.003 Chính các chó rừng còn đưa vú ra cho con nó đặng cho bú; Song con gái dân ta trở nên hung dữ như chim đà ở nơi đồng vắng.
4:4b.LAM.004.004 Con mới đẻ khao khát lắm, lưỡi nó dính với cúa họng. Trẻ nhỏ đòi bánh chẳng ai bẻ cho.
4:5b.LAM.004.005 Những người quen nếm mùi cao lương đơn chiếc trong các đường phố; Những kẻ dưỡng nuôi trong đồ điều đỏ, nay ôm lấy đống phân tro.
4:6b.LAM.004.006 Tội lỗi con gái dân ta lớn hơn tội lỗi Sô-đôm, Là thành bị đổ như trong giây phút, chẳng ai giơ tay ra trên nó.
4:7b.LAM.004.007 Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
4:8b.LAM.004.008 Nay mặt đen hơn than: chẳng ai nhận biết trong đường phố; Còn xương bọc lấy da; khô ran như khúc gỗ.
4:9b.LAM.004.009 Những người bị gươm giết may hơn kẻ bị chết đói: Vì thiếu sản vật ngoài đồng, người lần lần hao mòn như bị đâm.
4:10b.LAM.004.010 Chính tay người đờn bà vẫn có lòng thương xót, nấu chín con cái mình, Dùng làm đồ ăn cho mình giữa khi con gái dân ta bị phá hại.
4:11b.LAM.004.011 Ðức Giê-hô-va đã làm trọn sự giận của Ngài, đổ cơn thạnh nộ Ngài ra; Ngài đã đốt lửa tại Si-ôn, thiêu nuốt nền nó.
4:12b.LAM.004.012 Các vua trên đất, cả dân cư thế gian, vốn chẳng ngờ Kẻ thù quân nghịch sẽ tràn vào các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
4:13b.LAM.004.013 Ấy là vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó, và sự gian ác của các thầy tế lễ nó. Họ đã đổ giữa nó huyết của người công bình.
4:14b.LAM.004.014 Họ đi quanh dọc đường như kẻ mù, bị máu làm ô uế, Ðến nỗi không ai có thể rờ đến áo xống họ.
4:15b.LAM.004.015 Người ta kêu bảo chúng rằng: Hãy xê ra, chẳng sạch. Hãy xê ra! xê ra! đừng rờ đến! Khi họ trốn tránh đi lưu lạc, dân ngoại kêu rằng: Chúng nó sẽ không trú ngụ ở đây nữa.
4:16b.LAM.004.016 Cơn giận Ðức Giê-hô-va đã làm tan lạc chúng, Ngài chẳng đoái xem nữa. Chúng nó chẳng nể mặt thầy tế lễ, cũng chẳng kính người già cả.
4:17b.LAM.004.017 Mắt chúng ta mòn mỏi trông sự cứu luống công! Chúng ta trông đợi hướng về một dân không thể cứu.
4:18b.LAM.004.018 Chúng nó dòm ngó chơn chúng ta, đến nỗi chúng ta không bước ra nơi đường phố. Sự cuối cùng chúng ta đã gần! Ngày chúng ta đã trọn! phải, sự cuối cùng chúng ta đã đến!
4:19b.LAM.004.019 Kẻ đuổi theo chúng ta thật lẹ hơn con chim ưng trên trời. Ðuổi theo chúng ta trên các núi, rình rập chúng ta trong đồng vắng.
4:20b.LAM.004.020 Hơi thở của mũi chúng ta, tức là kẻ chịu xức dầu của Ðức Giê-hô-va, thì đã mắc bẫy rồi, Về người, chúng ta thường nói rằng: Chúng ta nấp dưới bóng người mà sống giữa các nước.
4:21b.LAM.004.021 Hỡi con gái Ê-đôm, ở đất Uùt-xơ! Hãy vui mừng hớn hở, Cái chén cũng sẽ trao đến mầy, mầy sẽ say mê và trần truồng.
4:22b.LAM.004.022 Hỡi con gái Si-ôn, sự phạt tội lỗi mầy đã trọn, Ngài không đày mầy đi làm phu tù nữa! Hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ thăm phạt tội mầy; phô bày gian ác mầy!
5
5:1b.LAM.005.001 Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin nhớ sự đã giáng trên chúng tôi; Hãy đoái xem sự sỉ nhục chúng tôi!
5:2b.LAM.005.002 Sản nghiệp chúng tôi đã sang tay dân ngoại, Nhà cửa thuộc về người giống khác.
5:3b.LAM.005.003 Chúng tôi mất cha, phải mồ côi, Mẹ chúng tôi trở nên góa bụa.
5:4b.LAM.005.004 Chúng tôi uống nước phải trả tiền, Phải mua mới có củi.
5:5b.LAM.005.005 Kẻ đuổi theo kịp chúng tôi, chận cổ chúng tôi; Chúng tôi đã mỏi mệt rồi, chẳng được nghỉ!
5:6b.LAM.005.006 Chúng tôi giang tay hướng về những người Ê-díp-tô Và A-si-ri, đặng có bánh ăn no nê.
5:7b.LAM.005.007 Tổ phụ chúng tôi đã phạm tội, nay không còn nữa. Chúng tôi đã mang lấy sự gian ác họ.
5:8b.LAM.005.008 Kẻ đầy tớ cai trị chúng tôi, Chẳng ai cứu chúng tôi khỏi tay họ.
5:9b.LAM.005.009 Chúng tôi liều mạng mới có bánh mà ăn, Vì cớ mũi gươm nơi đồng vắng.
5:10b.LAM.005.010 Da chúng tôi nóng như lò lửa, Vì cơn đói thiêu đốt chúng tôi!
5:11b.LAM.005.011 Chúng nó đã làm nhục đờn bà tại Si-ôn, Và gái đồng trinh trong các thành Giu-đa.
5:12b.LAM.005.012 Tay chúng nó đã treo các quan trưởng lên, Chẳng kính trọng mặt các người già cả.
5:13b.LAM.005.013 Kẻ trai tráng đã phải mang cối, Trẻ con vấp ngã dưới gánh củi.
5:14b.LAM.005.014 Các người già cả không còn ngồi nơi cửa thành, Bọn trai trẻ không còn chơi đờn hát.
5:15b.LAM.005.015 Lòng chúng tôi hết cả sự vui; Cuộc nhảy múa đổi ra tang chế.
5:16b.LAM.005.016 Mão triều thiên rơi khỏi đầu chúng tôi, Khốn cho chúng tôi, vì chúng tôi phạm tội!
5:17b.LAM.005.017 Vì vậy lòng chúng tôi mòn mỏi, Mắt chúng tôi mờ tối,
5:18b.LAM.005.018 Vì núi Si-ôn đã trở nên hoang vu, Chồn cáo đi lại trên đó.
5:19b.LAM.005.019 Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài còn đời đời, Ngôi Ngài còn từ đời nầy sang đời kia!
5:20b.LAM.005.020 Sao Ngài quên chúng tôi mãi mãi, Lìa bỏ chúng tôi lâu vậy?
5:21b.LAM.005.021 Hỡi Ðức Giê-hô-va, hãy xây chúng tôi trở về Ngài thì chúng tôi sự trở về Làm những ngày chúng tôi lại mới như thuở xưa!
5:22b.LAM.005.022 Nhưng Ngài lại bỏ hết chúng tôi, Ngài giận chúng tôi quá lắm.
- Holder of rights
- Multilingual Bible Corpus
- Citation Suggestion for this Object
- TextGrid Repository (2025). Vietnamese Collection. Lamentations (Vietnamese). Lamentations (Vietnamese). Multilingual Parallel Bible Corpus. Multilingual Bible Corpus. https://hdl.handle.net/21.11113/0000-0016-C253-F